Thứ Năm, 3 tháng 9, 2015

Nên dùng L_Methionine hay DL_Methionine

Methionine là một trong những acid amin (AA) thiết yếu được bổ sung vào thức ăn chăn nuôi để giúp đạt năng suất vật nuôi tối ưu.
Methionine là acid amin hạn chế thứ nhất đối với gia cầm, thuỷ sản, và là AA hạn chế thứ nhì trên heo.
Methionine và cysteine là các AA chứa lưu huỳnh (S) giúp tạo thịt.
Các acid amin trong thiên nhiên đều ở dạng L- . Đồng phân dạng L- là dạng tự nhiên của methionine.
Qúa trình tổng hợp Protein đòi hỏi Methionine phải được chuyển hoá thành đồng phân dạng L.


CJ L-MET 100 : Gồm hoàn toàn dạng L-METHIONINE có hoạt tính sinh học và là sản phẩm L-METHIONINE duy nhất cho ngành thức ăn chăn nuôi sử dụng.
Sử dụng Đồng phân dạng L vật nuôi sẽ hấp thụ tốt hơn, tránh tiêu hao năng lượng.


Sử dụng L_Met100 hiệu quả hơn DL_Met rất nhiều.

Nhiều thử nghiệm đã được tiến hành tại các cơ sở nghiêm cứu trên thế giới cho thấy CJ L-MET 100 có độ hữu dụng sinh học tương đối cao hơn ít nhất là 10% so với DL_Met ( 1 đơn vị L_Met ít nhất bằng 1,1 đơn vị DL_Met)

Kết luận: Để tăng khả năng hấp thụ dinh dưỡng cần thiết cho vật nuôi. thuỷ sản nên sử dụng L_Met100 sẽ hiệu quả hơn so với DL_Methionine do vật nuôi không lãng phí năng lượng để chuyển hoá đồng phân dạng D sang dạng L.

L_Methionine (L_Met100) do CJ sản xuất có xuất xứ Malaysia được công ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ XNK Miền Tây nhập khẩu trực tiếp phân phối cho các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi, các đại lý thuốc thú y và các trại chăn nuôi gia súc, thuỷ sản trên toàn quốc.

Quý khách hàng là trại nuôi vui lòng liên hệ: 0972.682.505 gặp Mr.Đạt để biết thêm thông tin và được tư vấn chi tiết




Tầm quan trọng của Tryptophan

Tryptophan  là amino acid thiết yếu đầu tiên trong các thành phần thức ăn như bắp, thịt, bột thịt, bột cá và nó được xem như là amino acid có hàm lượng hạn chế xếp thứ 4 trong chế độ dinh dưỡng của heo dựa trên ngũ cốc. Vì thế, nhu cầu về Tryptophan thường hay bị bỏ quên vì chi phí cho 1 đơn vị L_Tryptophan cao hơn so với các amino acid khác. Tuy nhiên, bổ sung Tryptophan là yếu tố quan trọng trong quá trình tăng trưởng của heo. Tryptophan đóng vai trò là chìa khóa trong việc điều chỉnh sự ngon miệng và lượng thức ăn tiêu thụ của heo bằng hoạt động tổng hợp các tiền tố tạo nơ-ron dẫn truyền serotonin (5-HydroxyTryptamine - 5-HT).

 Các Nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng nếu trong thức ăn tỉ lệ Tryptophan: Lysine (Trp: Lys)  là 22% thì sẽ đạt hiệu suất tối ưu hóa cho heo con. Mức tăng trọng cao và có hiệu quả từ sự kết hợp hàm lượng các amino,cải thiện chế độ ăn uống, cân bằng axit amin à tổng hợp protein lý tưởng.

Tryptophan cũng có tác dụng tích cực đến lượng thức ăn tiêu thụ cho heo con giai đoạn cai sữa. Vì ngay sau khi cai sữa là thời điểm mà lượng thức ăn tiêu thụ thường giảm. Nếu bổ sung hàm lượng Tryptophan cao sẽ giúp giảm stress cho vật nuôi,kích thích thèm ăn, tăng khả năng hấp thụ thức ăn và trung bình tăng trọng ngày sẽ cao hơn.

Tryptophan hữu dụng trong điều kiện chuồng trại vệ sinh kém:
 Sự biến dưỡng của Tryptophan thông qua con đường Kynurenine (Kyrnurenine là một amino acid thơm, đây chính là chất trung gian trong quá trình biến dưỡng Tryptophan)  gia tăng khi cơ thể bị nhiễm trùng hay bị viêm.. Các điều kiện vệ sinh kém làm giảm biến dưỡng Tryptophan, nên lượng Tryptophan hữu dụng cho sự tăng trưởng và các chức năng biến dưỡng khác giảm. Vì vậy càng cần thiết phải bổ sung Tryptophan trong thức ăn.



 Kết luận:  Khi cung cấp thức ăn cho heo, quan trọng nhất là phải đáp ứng được nhu cầu về sinh dưỡng, có như vậy mới phát huy hết được tiềm năng di truyền của vật nuôi và đảm bảo lợi nhuận ròng sẽ đạt mức tốt nhất. Việc bổ sung các amino acid thiết yếu như  L_Lysine, DL_Methionine, L_Threonine và L_Tryptophan sẽ giúp đáp ứng các nhu cầu của vật nuôi dễ dàng chính xác hơn cũng như giảm được chi phí thức ăn. Mặc dù Tryptophan là amino acid thiết yếu thứ 4, nhưng nó đóng vai trò quan trọng đặc biệt trong giai đoạn heo con cai sữa. Dựa trên những tài liệu nghiên cứu, tỷ lệ SID Tryptophan:Lysine hiệu quả cho năng suất tăng trưởng được ước lượng khoảng 22%.

Kỹ thuật nuôi cá Tầm trong lồng

Kỹ thuật nuôi cá tầm trong lồng

I.Giới thiệu về giống cá Tầm
Hiện nay ở Việt Nam có 4 loài cá tầm đang được nuôi tại các trang trại nuôi thủy sản ở các khu vực miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên là cá tầm Siberi (Acipenser baerii), cá tầm beluga (Huso huso), cá tầm Nga (A. gueldenstaedtii) và cá tầm sterlet (A. ruthenus). Trong đó, đối tượng nuôi phổ biến nhất tại hầu hết các cơ sở nuôi là cá tầm Siberi. Cá tầm Trung hoa (A. sinensis) cũng được đưa vào nuôi thử nghiệm tại Việt Nam từ vài năm trước.
Cá Tầm là loại cá xương sụn, toàn bộ hệ thống xương của cá cũng như đầu cá đều cấu tạo từ sụn, thịt cá tầm trắng, dai, có vị béo ngậy, thành phần dinh dưỡng cao, dễ hấp thụ. Trứng cá tầm được coi là món ăn hoàng gia rất được ưa chuộng trên thị trường thế giới.

Cá Tầm được đưa về nuôi thử nghiệm ở Việt Nam từ năm 2006, cùng dòng cá nước lạnh, nhưng cá Tầm thích ứng ở nhiệt độ từ 22 – 250 C, ở một số vùng thấp như: Đại Từ, Võ Nhai (Thái Nguyên), Chợ Đồn (Bắc Kạn), Na Hang (Tuyên Quang), Cấm Sơn (Bắc Giang)… nơi có độ cao từ 80-100m so với mực nước biển cũng có thể nuôi loài cá này.

II. Kỹ thuật nuôi thương phẩm cá tầm

1. Chuẩn bị lồng nuôi

Cá tầm sống trong môi trường nước lạnh, sạch và ô xy hòa tan cao, tốt nhất trên 6 mg/lít. Nhiệt độ nước phù hợp cho sự tăng trưởng của cá tầm từ 18 – 270C. Cá tầm có thể sống được khi nhiệt độ cao hơn, nhưng khả năng tăng trưởng kém, nếu nhiệt độ cao kéo dài có thể gây chết hoặc phát triển dịch bệnh.

- Lồng nuôi cá có thể làm bằng gỗ hoặc khung lồng HDPE có diện tích 25m2

- Hồ chứa có nguồn phong phú, độ sâu trên 4m, trong sạch, độ đục >60cm,  nhiệt độ  18-270C.

2. Chuẩn bị cá giống

- Từ 100-150gam/con thì thả với mật độ 3-5 con/m2, nếu cá giống nhỏ hơn có thể làm thêm lồng ương giống.

- Chọn những con cá giống khỏe mạnh, không bệnh tật

- Cá giống phải nhập từ nơi sản xuất có uy tín

3 Quản lý và chăm sóc

3.1 Thức ăn và kỹ  thuật cho ăn

*Thức ăn:

- Thức ăn của cá tầm là các loại giun quế, cá nhỏ, tôm, tép. Ngoài ra, còn có cám công nghiệp (cám công nghiệp ngoại tốt với cá nuôi thương phẩm nhưng lại không tốt với cá bố mẹ do hàm lượng lipit quá cao).

- Thức ăn phải đảm bảo không bị ôi, mốc, nhiễm các loại nấm.

*Khẩu phần thức ăn

Bảng 2.3: Số lần cho ăn phụ  thuộc vào từng giai đoạn phát triển của cá.
Khối lượng thân cá
(g)
Kích thước thức ăn
(mm)
Khẩu phần thức ăn
(%)
Số lần cho ăn
(Lần/ngày)
Thời điểm cho ăn
(giờ)
5 – 12
2,5 – 3,5
4,6
6
7, 9, 11, 13, 15,17
12 – 25
2,5 – 3,5
3,4
5
7, 9, 11, 14, 17
25 -40
2,5 – 3,5
2,7
4
7, 10.30, 14.30, 17
40 – 60
5
2,2
4
7, 10.30, 14.30, 17
60 – 100
5
2,0
4
7, 10.30, 14.30, 17
100 – 150
5
1,8
3
7, 10.30, 16
150 – 200
5
1,6
3
7, 10.30, 16
Trên 200
7
1,5
3
7, 16

Phương pháp cho ăn

Cá tầm thường ăn theo đàn vì vậy từ  khi mới thả chúng ta nên tập cho cá thói quen này, nhằm kích thích khả năng bắt mồi. Bên cạnh đó chọn vị trí cho ăn hợp lý cũng rất quan trọng, nên chọn vị trí bên cạnh cống cấp nước về  phía cống thoát để cho ăn  vì trong quá  trình ăn cá cần nhiều oxy hơn (oxy để tiêu hòa thức  ăn, bắt mồi,…) và thức ăn thừa có thể  di chuyển về cống thoát. Thời gian cho ăn nên kéo dài từ 5 -10 phút để tăng khả năng sử dụng thức ăn.

Những ngày mưa to nước đục nên giảm lượng thức ăn của mỗi lần cho ăn xuống còn một nửa so với bình thường (có thể ngừng cho ăn) đến khi nước trong chở lại (vì nước đục cá hầu như không bắt được mồi).

4 Phòng và trị bệnh cho cá tầm

Bà con nông dân cần vệ sinh bể nuôi ,dụng cụ nuôi thường xuyên do nguyên nhân chủ yếu cá bị bệnh là do vệ sinh

5 Thu hoạch

Kích thước cá tầm nuôi thương phẩm phụ thuộc vào yêu cầu thị trường. Không thu hoạch đồng loạt mà tiến hành thu tỉa bằng lưới, cá được vận chuyển bằng bao nilon, bao đựng nước đá và được bơm đầy oxy.


Hy vọng với việc đầu tư hỗ trợ của Nhà nước và sự đồng thuận của người dân khi tham gia mô hình nuôi cá tầm sẽ giúp người dân phát triển kinh tế và nhân rộng mô hình nuôi cá tầm trong tương lai.